NHỮNG CHIẾN BINH MÂY MÙ
NHỮNG CHIẾN BINH MÂY MÙ
The place where the Khau Pha guerrilla team was founded
Nội dung thuyết minh
Trước năm 1945, giữa núi rừng Tây Bắc mù sương hiểm trở, một lực lượng du kích đã âm thầm hình thành và trở thành nỗi khiếp đảm của quân đội Pháp – đó chính là Đội du kích Khau Phạ. Lợi dụng địa hình đèo dốc hiểm trở và khí hậu khắc nghiệt quanh năm mây phủ, các chiến sĩ du kích đã linh hoạt vận dụng chiến thuật đánh nhanh rút gọn, “xuất quỷ nhập thần”, đánh chặn các đợt hành quân của thực dân Pháp trên tuyến Nghĩa Lộ – Lai Châu – Lào Cai, gây nhiều tổn thất cho địch. Quân Pháp phải nể sợ và gọi họ bằng cái tên đầy kiêng dè là “Những chiến binh mây mù”.
Ngược dòng lịch sử, ngày 10 tháng 10 năm 1946, tại bản Trống Tông Khúa, xã xã Tú Lệ, tỉnh Lào Cai (xã Cao Phạ, huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái trước đây), Đội du kích Khau Phạ chính thức được thành lập. Ban đầu, lực lượng rất nhỏ, chỉ gồm 7 đội viên, chủ yếu là người dân tộc Mông địa phương, với trang bị đơn sơ gồm súng kíp tự chế, dao nhọn, cung nỏ và vài khẩu súng cất giấu được từ thời khởi nghĩa. Các đồng chí Lý Vảng Đế, Lý Chờ Vàng và Lý Nủ Chu giữ vai trò nòng cốt. Sau này, ông Giàng Khua Kỷ là Đội trưởng đầu tiên, tiếp nối là Giàng Sống Tu và Lý Nủ Chu. Mặc dù xuất phát điểm thiếu thốn về mọi mặt, song nhờ tinh thần yêu nước bền bỉ và ý chí chiến đấu quật cường, đội nhanh chóng phát triển, có thời điểm lên tới hơn 200 người – tất cả đều là những người con của núi rừng Khau Phạ, sẵn sàng hy sinh vì độc lập dân tộc.
Những địa danh quanh vùng như Hang Dơi, bản Lìm Thái, bản Lìm Mông trở thành những điểm hoạt động cách mạng quan trọng của Đội du kích Khau Phạ trong giai đoạn 1946 - 1952. Trong đó, ngôi nhà của Đội trưởng Lý Nủ Chu ở bản Lìm Mông là một cơ sở bí mật, nơi cất giữ vũ khí và tổ chức các cuộc họp bàn chiến thuật. Từ đây, hàng chục trận đánh du kích được tổ chức và giành thắng lợi vang dội. Tiêu biểu là trận phục kích tại Nậm Khắt khiến cả đại đội địch phải rút lui trong hỗn loạn; hai trận đánh phối hợp tại Gia Hội và Tú Lệ thu được nhiều súng đạn; đặc biệt là trận đánh vào đồn Tú Lệ tháng 3/1948, Đội phối hợp với Đại đội 520 và Đội xung phong Quyết Tiến tiêu diệt tên chỉ huy Lò Văn Inh, thu hàng chục vũ khí hiện đại của Pháp.
Giai đoạn 1947 – 1949, giữa thời tiết khắc nghiệt và sự bao vây gắt gao của địch, đội phải rút sâu vào rừng, sống nhờ vào củ mài, củ nâu và lương thực do dân bản chia sẻ. Thiếu lương thực, đạn dược, mất liên lạc với Đảng, chính quyền và quân đội, nhưng đội vẫn kiên cường bám trụ, tuyệt đối trung thành và tiếp tục chiến đấu. Thực dân Pháp vì quá lo sợ trước sức mạnh của đội đã treo thưởng lớn cho ai bắt sống hoặc lấy được đầu ba chiến sĩ chủ chốt: Lý Vảng Đế, Lý Chờ Vàng và Lý Nủ Chu – phần thưởng chỉ là 3 cân muối, nhưng ẩn sau đó là mưu đồ dập tắt ngọn lửa kháng chiến.
Cuối năm 1952, trong chiến dịch Tây Bắc lịch sử do Bộ Tổng tư lệnh phát động, Đội du kích Khau Phạ đã phối hợp cùng bộ đội chủ lực tham gia vào nhiều trận đánh quyết định. Ngày 16/10/1952, khi quân Pháp nhảy dù xuống Cao Phạ – Tú Lệ nhằm ngăn chặn bước tiến của quân ta, đội du kích đã cùng lực lượng chủ lực bao vây, đánh tan tiểu đoàn địch. Chỉ ba ngày sau, cả vùng Phân khu Nghĩa Lộ, Than Uyên và Mù Cang Chải hoàn toàn được giải phóng. Địch tháo chạy tán loạn, nhiều toán bị tiêu diệt bởi chính lực lượng du kích từ các bản làng bám đánh.
Trong suốt quá trình hoạt động từ năm 1946 đến 1952, Đội du kích Khau Phạ đã tổ chức 41 trận đánh, trong đó có 16 trận độc lập và 25 trận phối hợp. Kết quả là 125 tên địch bị tiêu diệt, bắt sống và gọi hàng, thu 150 khẩu súng cùng nhiều quân trang, quân dụng, góp phần quan trọng vào chiến thắng chung của chiến trường Tây Bắc.
Ghi nhận những chiến công và sự cống hiến to lớn đó, ngày 27/8/2012, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ra quyết định số 3270/QĐ-BVHTTDL, xếp hạng Nơi thành lập Đội du kích Khau Phạ là Di tích lịch sử cấp Quốc gia. Ngày nay, trên đỉnh đèo Khau Phạ, một đài bia tưởng niệm trang trọng đã được xây dựng, không chỉ ghi dấu những chiến công oanh liệt của một thời mà còn là nơi tri ân, giáo dục truyền thống yêu nước cho các thế hệ mai sau.
NHỮNG CHIẾN BINH MÂY MÙ
The place where the Khau Pha guerrilla team was founded
Nội dung thuyết minh
Trước năm 1945, giữa núi rừng Tây Bắc mù sương hiểm trở, một lực lượng du kích đã âm thầm hình thành và trở thành nỗi khiếp đảm của quân đội Pháp – đó chính là Đội du kích Khau Phạ. Lợi dụng địa hình đèo dốc hiểm trở và khí hậu khắc nghiệt quanh năm mây phủ, các chiến sĩ du kích đã linh hoạt vận dụng chiến thuật đánh nhanh rút gọn, “xuất quỷ nhập thần”, đánh chặn các đợt hành quân của thực dân Pháp trên tuyến Nghĩa Lộ – Lai Châu – Lào Cai, gây nhiều tổn thất cho địch. Quân Pháp phải nể sợ và gọi họ bằng cái tên đầy kiêng dè là “Những chiến binh mây mù”.
Ngược dòng lịch sử, ngày 10 tháng 10 năm 1946, tại bản Trống Tông Khúa, xã xã Tú Lệ, tỉnh Lào Cai (xã Cao Phạ, huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái trước đây), Đội du kích Khau Phạ chính thức được thành lập. Ban đầu, lực lượng rất nhỏ, chỉ gồm 7 đội viên, chủ yếu là người dân tộc Mông địa phương, với trang bị đơn sơ gồm súng kíp tự chế, dao nhọn, cung nỏ và vài khẩu súng cất giấu được từ thời khởi nghĩa. Các đồng chí Lý Vảng Đế, Lý Chờ Vàng và Lý Nủ Chu giữ vai trò nòng cốt. Sau này, ông Giàng Khua Kỷ là Đội trưởng đầu tiên, tiếp nối là Giàng Sống Tu và Lý Nủ Chu. Mặc dù xuất phát điểm thiếu thốn về mọi mặt, song nhờ tinh thần yêu nước bền bỉ và ý chí chiến đấu quật cường, đội nhanh chóng phát triển, có thời điểm lên tới hơn 200 người – tất cả đều là những người con của núi rừng Khau Phạ, sẵn sàng hy sinh vì độc lập dân tộc.
Những địa danh quanh vùng như Hang Dơi, bản Lìm Thái, bản Lìm Mông trở thành những điểm hoạt động cách mạng quan trọng của Đội du kích Khau Phạ trong giai đoạn 1946 - 1952. Trong đó, ngôi nhà của Đội trưởng Lý Nủ Chu ở bản Lìm Mông là một cơ sở bí mật, nơi cất giữ vũ khí và tổ chức các cuộc họp bàn chiến thuật. Từ đây, hàng chục trận đánh du kích được tổ chức và giành thắng lợi vang dội. Tiêu biểu là trận phục kích tại Nậm Khắt khiến cả đại đội địch phải rút lui trong hỗn loạn; hai trận đánh phối hợp tại Gia Hội và Tú Lệ thu được nhiều súng đạn; đặc biệt là trận đánh vào đồn Tú Lệ tháng 3/1948, Đội phối hợp với Đại đội 520 và Đội xung phong Quyết Tiến tiêu diệt tên chỉ huy Lò Văn Inh, thu hàng chục vũ khí hiện đại của Pháp.
Giai đoạn 1947 – 1949, giữa thời tiết khắc nghiệt và sự bao vây gắt gao của địch, đội phải rút sâu vào rừng, sống nhờ vào củ mài, củ nâu và lương thực do dân bản chia sẻ. Thiếu lương thực, đạn dược, mất liên lạc với Đảng, chính quyền và quân đội, nhưng đội vẫn kiên cường bám trụ, tuyệt đối trung thành và tiếp tục chiến đấu. Thực dân Pháp vì quá lo sợ trước sức mạnh của đội đã treo thưởng lớn cho ai bắt sống hoặc lấy được đầu ba chiến sĩ chủ chốt: Lý Vảng Đế, Lý Chờ Vàng và Lý Nủ Chu – phần thưởng chỉ là 3 cân muối, nhưng ẩn sau đó là mưu đồ dập tắt ngọn lửa kháng chiến.
Cuối năm 1952, trong chiến dịch Tây Bắc lịch sử do Bộ Tổng tư lệnh phát động, Đội du kích Khau Phạ đã phối hợp cùng bộ đội chủ lực tham gia vào nhiều trận đánh quyết định. Ngày 16/10/1952, khi quân Pháp nhảy dù xuống Cao Phạ – Tú Lệ nhằm ngăn chặn bước tiến của quân ta, đội du kích đã cùng lực lượng chủ lực bao vây, đánh tan tiểu đoàn địch. Chỉ ba ngày sau, cả vùng Phân khu Nghĩa Lộ, Than Uyên và Mù Cang Chải hoàn toàn được giải phóng. Địch tháo chạy tán loạn, nhiều toán bị tiêu diệt bởi chính lực lượng du kích từ các bản làng bám đánh.
Trong suốt quá trình hoạt động từ năm 1946 đến 1952, Đội du kích Khau Phạ đã tổ chức 41 trận đánh, trong đó có 16 trận độc lập và 25 trận phối hợp. Kết quả là 125 tên địch bị tiêu diệt, bắt sống và gọi hàng, thu 150 khẩu súng cùng nhiều quân trang, quân dụng, góp phần quan trọng vào chiến thắng chung của chiến trường Tây Bắc.
Ghi nhận những chiến công và sự cống hiến to lớn đó, ngày 27/8/2012, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ra quyết định số 3270/QĐ-BVHTTDL, xếp hạng Nơi thành lập Đội du kích Khau Phạ là Di tích lịch sử cấp Quốc gia. Ngày nay, trên đỉnh đèo Khau Phạ, một đài bia tưởng niệm trang trọng đã được xây dựng, không chỉ ghi dấu những chiến công oanh liệt của một thời mà còn là nơi tri ân, giáo dục truyền thống yêu nước cho các thế hệ mai sau.